Ảnh hưởng của việc bổ sung bột gấc đến năng suất và chất lượng trứng của gà isa brown

Nguyễn Thị Thúy Hằng * , Võ Thị Ngọc Bích , Huỳnh Minh Luân , Đặng Mai Phúc , Phạm Ngọc Thảo Vy Nguyễn Thị Huỳnh Như

Abstract

The experiment was arranged in a completely randomized design with 4 experiments; each experiment had 3 repetitions, with 1 repetition having 10 hens, for a total of 120 Isa Brown laying hens aged 31–38 weeks. The experiment aimed to evaluate the effects of adding gac powder at different levels to the basic diet of 0% (NT1 control), 2% (NT2), 4% (NT3), and 6% (NT4) on the reproductive performance and egg quality of Isa Brown hens. The results of supplementing gac powder showed a difference in laying rate, egg weight, yolk ratio, egg white ratio, and yolk color of experimental hens (P<0.05). The highest laying rate in NT2 (91.69%), and the lowest in NT1 (81.37%); The average egg weight was highest in NT2 (67.16 g) and lowest in NT1 (63.13 g); The egg yolk ratio is highest in NT2 (18.12%) and lowest in NT1 (17.65%). The egg white ratio is highest in NT2 (41.30%) and lowest in NT1 (37.27%); yolk color was highest in NT2 (14) and lowest in NT1 (10). The results show that supplementing gac powder at 2% for chickens helps achieve the best egg productivity and egg quality.

Keywords: Chicken eggs, Gac powder, Isa Brown

Tóm tắt

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 NT, mỗi NT có 3 lần lặp lại với một lần lặp lại có 10 con gà, tổng cộng là 120 con gà mái đẻ Isa Brown giai đoạn 31 – 38 tuần tuổi. Thí nghiệm nhằm đánh giá ảnh hưởng việc bổ sung bột gấc với các mức độ khác nhau vào khẩu phần ăn cơ sở của gà là 0% (NT1 ĐC); 2% (NT2); 4% (NT3); 6% (NT4) đến năng suất sinh sản  và chất lượng của trứng của gà Isa Brown. Kết quả việc bổ sung bột gấc đã tạo khác biệt về tỷ lệ đẻ, trọng lượng trứng, tỷ lệ lòng đỏ, tỷ lệ lòng trắng trứng và màu lòng đỏ của gà thí nghiệm (P<0,05). Tỷ lệ đẻ cao nhất ở NT2 (91,69%) và thấp nhất ở NT1(81,37%); Trọng lượng trứng trung bình cao nhất ở NT2 (67,16 g) và thấp nhất ở NT1 (63,13 g); tỷ lệ lòng đỏ của trứng cao nhất ở NT2 (18,12%) và thấp nhất ở NT1(17,65%); tỷ lệ lòng trắng trứng cao nhất ở NT2 (41,30%) và thấp nhất ở NT1(37,27%); màu lòng đỏ cao nhất ở NT2 (14) và thấp nhất ở NT1(10). Kết quả cho thấy việc bổ sung bột gấc ở mức 2% cho gà để giúp đạt năng suất trứng và chất lượng trứng tốt nhất.

Từ khóa: Bột gấc, Isa Brown, trứng gà.

Tài liệu tham khảo

[1]. Saleh AA (2013), Effects of fish oil on production performance, polyunsaturated fatty acids and yolk cholesterol levels in hens, Emirates Food and Agriculture Journal.

[2]. Lý Minh Đa (2018), “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị một số bệnh cho đàn gà đẻ Isa Brown tại công ty cổ phần gia cầm Ngọc Mừng, Đông Anh, Hà Nội”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Thú y, Đại học Nông lâm Thái Nguyên.Nguyen Thi Thuy, 2019. Effect of adding vitamins and minerals in powder or aqueous from on egg production of hens in th late stage of the laying cycle. www.Irrd.org/lrr31.

[3]. Nguyễn Hoàng Anh Khiêm, 2020. Nghiên cứu ảnh hưởng bổ sung bột gấc, bột vạn thọ đến năng suất và chất lượng của gà Isa Brown tại trại gà Ngọc Phượng. Đại học Sư pham kỹ thuật Vĩnh Long.

[4]. Đinh Thị Tình (2017), “Ảnh hưởng của việc bổ sung bột tỏi, gừng, nghệ vào khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà Isa Shaver nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi – Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học ngành Chăn nuôi, Đại học Nông lâm Thái Nguyên.

[5]. Đỗ Quốc Phấn (2017), “Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà đẻ trứng Isa Brown thương phẩm nuôi trong các điều kiện chuồng trại khác nhau trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, Đại học Thái Nguyên.

[6]. Tống Minh Phương, 2016. Khả năng sản xuất trứng của gà Isa Brown và Ai Cập nuôi tại Yên Định, Thanh Hóa. Tạp chí khoa học Trường Đại học Hồng Đức – số 30.20216

[7]. Phạm Thị Hiên (2015), “Đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà Isa Brown và gà Ai Cập nuôi tại xã Yên Nam – Duy Tiên – Hà Nam”, Luận văn thạc sĩ ngành Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

[8]. Đinh Sỹ Dũng (2010). Nghiên cứu ảnh hưởng của khô bã gấc đến một số chỉ tiêu năng suất, chất lượng trứng trên đàn gà đẻ trứng thương phẩm. Đại học Nông nghiệp Hà Nội.

[9]. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), “Giáo trình chăn nuôi gia cầm”, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội.

[10]. Vũ Duy Giảng (2008), “Khô bã gấc – thức ăn tốt cho chăn

Số

Chuyên mục

Các bài báo